0969636173

Home / Kỹ Thuật Môi Trường / Quy Trình Nuôi Cấy Vi Sinh Trong Xử Lý Nước Thải

Quy Trình Nuôi Cấy Vi Sinh Trong Xử Lý Nước Thải

Chia sẻ bài viết

QUY TRÌNH KỸ THUẬT NUÔI CẤY VI SINH TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI

Trong xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học, Nuôi cấy vi sinh là công đoạn đòi hỏi nhiều kỹ năng và kinh nghiệm nhất, quá trình này thường diễn ra cuối cùng sau khi xây dựng lắp đặt mới hay cải tạo hệ thống xử lý nước thải.
Khả năng thích nghi, sinh trưởng phát triển của vi sinh vật là yếu tố quyết định tới hiệu quả xử lý nước thải. Quy trình nuôi cấy vi sinh trong hệ thống xử lý nước thải có nhiều phương pháp khác nhau, nay chúng tôi giới thiệu một số phương pháp nuôi cấy như sau:

Nuôi cấy  vi sinh vật bằng men

Phương pháp nuôi cấy vi sinh trong hệ thống xử lý nước thải bằng men vi sinh mới được sử dụng sau này, hiệu quả ngoài phụ thuộc vào công nghệ, các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển thì chủng loại và chất lượng men vi sinh của nhà sản xuất cũng quyết định tới độ thành công.

nuoi-vi-sinh
CHUẨN BỊ NUÔI CẤY VI SINH TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢi

1. Xác định liều lượng vi sinh

Liều lượng men vi sinh phụ thuộc vào chủng loại men cũng như phụ thuộc vào nồng độ tế bào.

a) Nuôi vi sinh mới hoàn toàn – nuôi cấy lại hệ thống (cho bể kỵ khí và hiếu khí):

Dùng với liều lượng 2 – 10 ppm/ngày tuỳ theo nồng độ COD, BOD trong nước thải. Lượng vi sinh được tính toán dựa vào thể tích bể, liều lượng nuôi cấy trong thời gian 21 ngày.

Công thức tính liều lượng vi sinh như sau:

A = (m x V)/1000

Trong đó:

A: Khối lượng vi sinh nuôi cấy trong 1 ngày (kg/ngày)

m: 2 – 10 ppm (liều lượng vi sinh dựa vào độ ô nhiễm của chất thải cách tính chung thông thường là 3ppm, nhưng XIN NHẮC LẠI nên chọn theo thông số nhà sản xuất vì phụ thuộc vào hàm lượng bào tử được cấy nhiều hay ít trên 1kg bột gỗ)

V: Thể tích bể sinh học (m3) [hiếu khí hay kỵ khí]

Cấy với lượng A vi sinh mỗi ngày liên tục trong 21 ngày.

Lưu ý:

– Dùng từ 5 – 10% bùn hoạt tính cho vào thể tích bể sinh học để làm cơ chất tăng trưởng.

– Cho trực tiếp vi sinh vào hệ thống mà không cần pha loãng trước khi cho vào hệ thống.

– pH = 6 – 8, nhưng hoạt động tốt nhất ở ngưỡng pH trung tính.

– Trong thời gian nuôi cấy ban đầu hay hay cải tạo lại hệ thống, bể phải được khởi động lại tải trọng thấp hoặc nồng độ COD khoảng 2kg/m3

– Chất dinh dưỡng đảm bảo tỷ lệ BOD:N:P = 100:5:1 ( nếu dinh dưỡng trong một số ngành mất cân đối ở tỉ số này cần bổ sung chất dinh dưỡng)

Tiến hành nuôi cấy vi sinh

Ngày thứ 1

Cho nước thải vào đầy 1/3 bể sinh học có sục khí và 2/3 bể nước đã xử lý tuần hoàn lại hay nước sạch để giảm tải lượng ô nhiễm, sao cho tải lượng COD trong thời gian nuôi cấy < 2kg/m3, cho sản phẩm vi sinh đã tính toán kết hợp chất dinh dưỡng vào bể để vi sinh bắt đầu tăng trưởng sinh khối.

Ngày thứ 2

Cho nước lắng 2h sau đó cho nước trong ra, cho lượng nước thải mới vào, với mức 2/3 nước thải, 1/3 nước sạch sục khí và tiếp tục cho sản phẩm vi sinh và ure , DAP vào bể
Ngày thứ 3
Cho nước lắng 2h và cho nước trong ra khỏi bể, cho lượng nước thải mới vào, sục khí và tiếp tục cho sản phẩm vi sinh và và ure , DAP vào bể.

Cứ như vậy cho tới ngày thứ 15-18 (tùy vào nước thải) thì chạy 100% tải trọng thiết kế.

Ghi chú:

– Sau khi nuôi cấy đến ngày 21 thì cho nước trong đã lắng ra ngoài;

– Nạp nước thải mới vào và bắt đầu hệ thống bình thường, lúc này lượng sinh khối đã tăng lên đến mức ổn định để xử lý chất hữu cơ.

b) Nuôi vi sinh tại duy trì hệ thống

Dùng vi sinh bổ sung với liều lượng từ 0,5 ppm/ngày hoặc theo nồng độ COD, BOD trong nước thải và độ ổn định của hệ thống. Lưu lượng cấy duy trì sẽ được tính vào lưu lượng nước thải/ngày để bổ sung một phần vi sinh trôi ra ngoài và yếu dần đi.

Tính theo công thức sau:

A=( m x Q) / 1000

Trong đó:

A: Khối lượng vi sinh bổ sung theo ngày, cách ngày hoặc theo tuần tùy vào độ ổn định của hệ thống (kg/ngày)

m: 0,5 ppm

Q: Lưu lượng nước thải đầu vào (m3/ngày)

HOẠT HÓA BÙN HOẠT TÍNH VÀ NUÔI CẤY VI SINH

Trước đây men vi sinh chưa sản xuất rộng rãi và đặc biệt chi phí men vi sinh khá cao. Hệ thống xử lý nước thải chưa có nhiều và chúng cách xa nhau, nên khi xây dựng Hệ thống xử lý nước thải, Bùn hoạt tính thường thu từ bùn sông hoặc ao hồ không nhiễm bẩn dầu mỡ hay dầu khoáng đưa lên hoạt tính rồi xử lý nước thải, hiện nay thì biện pháp này ít sử dụng ;

Chuẩn bị bùn hoạt tính

Trước khi cho vào bể aerotank, bùn sông hoặc ao hồ phải được loại sơ bộ các tạp chất như: sỏi cát, cặn rác, lá cây…, bùn được trộn với nước, rồi sau thời gian lắng ngắn (10-15 phút) được đổ vào bể aerotank.

Khi cho bùn vào bể phải đảm bảo bể aerotank đã bắt đầu có thể hoạt động. Hệ thống phân phối khí cung cấp cho vi sinh, hệ thống tuần hoàn bùn trong bể lắng cũng được hoạt động tốt;

Khi cho bùn vào bể Aerotank, hoạt động hệ thống sục khí cung cấp oxy vào bể và không cần nước thải trong thời gian 3-6h tùy thuộc vào nguồn bùn và loại nước thải cần xử lý.

Hoạt hóa bùn

Sau khi chuẩn bị bùn xong, cho nước thải vào bể aerotank, ban đầu với lượng nhỏ từ 1/10 đến 1/8 lưu lượng thiết kế trong ngày, sau đó theo mức độ tích lũy bùn, tăng dần cho đến khi đạt lưu lượng thiết kế;

Trong bùn hoạt tính hoạt động tốt, ngoài các bông tập trung các động vật vi sinh còn gặp một lượng không lớn thảo trùng (trùng lông), trùng xoắn, giun. Khi điều kiện làm việc ổn định bị phá vỡ, trong bùn phát triển các vi khuẩn dạng chỉ (sphacrotilus, cladothrix) thực vật nhánh (zooglea ramigeras, các nấm nước…).

Các dạng thực vật này làm cho bùn nổi, bùn này khó lắng trong bể lắng đợt 2 và bị cuốn trôi theo nước ra với lượng đáng kể.

Trong trường hợp bùn bị cuốn trôi ra ngoài, các căn bông bùn ly ti nhỏ khó lắng có thể dùng các chất trợ keo như Polimer hay PAC với liều lượng 0,01- 0,5 mg/ lít để giữ bùn.

Tách bùn hoạt tính

Việc tách bùn hoạt tính hoàn toàn có thể tiến hành liên tục và không cho hình thành lớp bùn nằm trong bể lắng.

Việc tách bùn không đúng thời gian sẽ làm bẩn và làm giảm chất lượng nước đã xử lý, ngoài ra còn làm nổi bùn đã lắng.

Nguyên nhân lôi cuốn bùn từ bể lắng 2 có thể do nồng độ bùn cao hơn giới hạn đối với tải trọng đã cho.

Đôi khi còn có trường hợp khó bảo đảm tách bùn từ bể lắng đứng.

Vì vậy trong các bể lắng này cần cào bùn từ đáy phễu một cách hệ thống (hoặc vài lần trong ngày), khó khăn này cũng có thể giải quyết bằng cách tăng thể tích bùn tuần hoàn.

be-Aerotank
HOÀN THÀNH NUÔI CẤY VI SINH XỬ LÝ NƯỚC THẢi

Lưu ý:

Trong thời gian đầu nuôi cấy vi sinh, nên thường xuyên kiểm tra BOD, N, P để cân đối bổ sung chất dinh dưỡng.

( đón xem bài viết tính toán hàm lượng chất dinh dưỡng cần bổ sung)

Hàm lượng oxy cung cấp cho bể sinh học hiếu khí luôn duy trì 2-4mg/l (đo tại vị trí sau quá trình lắng).

Trong bể hiếu khí pH thích hợp từ 6,5 – 8,5. pH thấp Quá trình nitrat hoá, hàm lượng HCO3- thấp, cần điều chỉnh pH lên cao.

Công ty xử lý nước thải xử lý môi trường Việt Water

Liên Hệ Ngay Với Chúng Tôi Để Được Tư Vấn Công Nghệ Xử Lý Phù Hợp, Hiệu Quả Nhất.

ĐỂ LẠI THÔNG TIN  CẦN TƯ VẤN VÀ NHẬN BÁO GIÁ

 

Bình Luận

Bình Luận

Đánh giá bài viết

About Việt Water

Bài Nỗi Bật

nguyen-ly-hoat-dong-cua-unitank

Công Nghệ UNITANK Xử Lý Nước Thải

Công nghệ bể Unitank xử lý nước thải Cấu tạo đơn giản nhất của một …

Quy-trinh-cong-nghe-SBR

CÔNG NGHỆ SBR (Sequencing Batch Reactor) TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI

Cơ Sở Xử Lý Cơ sở của phương pháp xử lý sinh học SBR nước …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *